HOẠT ĐỘNG PHONG TRÀO
 
CÔNG TÁC XÃ HỘI- NGHỀ VÀ NGHIỆP

 

Công tác xã hội- Nghề và nghiệp

Hoàng Nguyên

Nhằm triển khai thực hiện đề án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) của Bộ Tư pháp năm 2012, Bộ Tư pháp tổ chức hoạt động nghiên cứu, rà soát khảo sát, đánh giá thực tiễn thi hành Bộ Luật Dân sự và Luật Hôn nhân - gia đình liên quan đến nghề công tác xã hội. Vào tháng 12/2012 vừa qua, Hội thảo trao đổi về vấn đề này đã được diễn ra tại TP.HCM với sự tham gia của đại diện nhiều Sở ngành và các các tổ chức nghề nghiệp liên quan.

Tại buổi hội thảo, nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực pháp luật và ngân hàng đã chia sẻ kinh nghiệm về nghề công tác xã hội tại Việt Nam hiện nay, đồng thời phân tích những bất cập của quy định pháp luật hiện hành về chính sách hoạt động nghề trong việc chăm sóc bảo trợ người  nghèo, trẻ em, người khuyết tật… Các đại biểu cũng mạnh dạn đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý đối với nghề CTXH và người làm nghề CTXH.  

Theo cách hiểu đơn giản, công tác xã hội (CTXH) là những hoạt động phát hiện và giúp đỡ những cá nhân, nhóm người gặp khó khăn… nhằm giúp họ vượt qua những rào cản của cuộc sống, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong xã hội và giúp họ phát triển, hoà nhập với cộng đồng một cách tích cực nhất. Trên thế giới hiện nay, CTXH được nhìn nhận như một ngành nghề mang tính chuyên môn với những chức năng cơ bản là ngăn ngừa và khắc phục những vấn đề xã hội, tập trung vào những mối quan tâm và nhu cầu của con người, đồng thời giúp họ vượt qua khó khăn và phát huy tối đa khả năng của bản thân. CTXH tập trung vào ba nhóm hoạt động chính bao gồm CTXH với cá nhân , với nhóm và với cộng đồng.

Nghiệp dĩ

Không một xã hội nào không có sự quan tâm hỗ trợ đối với người yếu thế. Nền kinh tế xã hội của một quốc gia càng phát triển thì nhu cầu phục vụ nhóm đối tượng này trong cộng đồng đòi hỏi cần phải chú trọng nhiều hơn.

Trong xã hội, người yếu thế được chia sẻ tích cực từ vòng tay nhân ái của cộng đồng, họ là những người nghèo, người khuyết tật,  người già neo đơn, trẻ em cơ nhỡ, phụ nữ bị bạo hành…Trong  hệ thống pháp luật, người yếu thế được được bảo vệ  bởi hầu hết các văn bản pháp qui với phạm vi điều chỉnh rộng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, tương ứng với các chế định liên quan về năng lực hành vi dân sự , độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chế định tài sản, quyền sở hữu, nghĩa vụ hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… Điều đó cho thấy công tác xã hội là một phần không thể tách rời trong sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Dưới góc độ kinh tế, CTXH đơn thuần chỉ là những hoạt động cung ứng dịch vụ xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhiều nhóm đối tương khác nhau. Trong chức năng quản lý, CTXH  đảm bảo an sinh xã hội bằng đường lối chủ trương chính sách. Tuy nhiên, dưới góc nhìn xã hội, CTXH có thể còn được nhìn nhận như một một nghiệp dĩ, những người làm CTXH đều vô tư trước lợi ích cá nhân, xuất phát từ họ là tấm lòng và quan điểm phi lợi nhuận. Họ đau nỗi đau của người bệnh, họ xót cho cái nghèo của người nghèo, họ trăn trở cho những khó khăn của người khuyết tật, họ bất bình trước sự bất công nào đó bởi những thế lực “vô hình” mà những người yếu thế phải đối diện. Và cứ thế, những người làm CTXH đến với công việc này bằng sự đồng cảm và chia sẻ. Thế nhưng quan điểm và sự nhìn nhận của xã hội, của những nhà lãnh đạo, của bộ máy quản lý đối với công việc này ra sao ? Nghiệp dĩ đã tạo ra một nghề cao quý cần có sự vinh danh. Tại sao không ?  

Thực tiễn nghề

Nhìn từ góc độ nghề nghiệp, vai trò của người làm CTXH tại Việt Nam hiện vẫn chưa có sự tôn vinh cần thiết, trong khi các vấn đề xã hội luôn đặt ra những thách thức không nhỏ cho cuộc sống. Tình trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với những thống kê số liệu kê không ngừng tăng, dù nhóm đối tượng này luôn được ưu tiên chăm sóc bởi sự quan tâm của các ngành các cấp trong nhiều năm qua, và sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức xã hội trên thế giới. Bên cạnh đó, tình trạng ly hôn, ly thân và các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ngày càng diễn biến phức tạp.Vấn đề bạo lực gia đình đã có lúc liên tục tiếp diễn theo chiều hướng xấu, không chỉ dừng lại việc phụ nữ, trẻ em bị bạo hành, chuyện đàn ông bị bạo hành gia đình cũng khá phổ biến trong thời gian gần đây, thông qua các vụ án vợ đốt chồng, xâm hại thân thể chồng…

Ngoài hệ thống các văn bản qui phạm  pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trên, một số các hoạt động xã hội từ các chính sách hỗ trợ của nhà nước cũng đã được đặt ra. Một trong những hoạt động trọng tâm đó là việc triển khai chính sách tín dụng, cho vay xoá đói giảm nghèo của các ngân hàng chính sách dành cho người yếu thế là các hộ nghèo; vùng sâu, vùng xa; học sinh, sinh viên…Ngân hàng chính sách đã thể hiện vai trò tích cực trong việc giúp người yếu thế tiếp cận thông tin và các chính sách vay ưu đãi. Ngoài ra, bên cạnh các ngân hàng chính sách, nguồn vốn nhà nước hỗ trợ người nghèo cũng được triển khai đồng bộ tại các cơ quan nhà nước, các hội đoàn …theo nhiều cơ chế chính sách khác nhau, chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng có nhu cầu dễ dàng tiếp cận dịch vụ. Các biện pháp xử lý tài chính cũng linh hoạt và đơn giản đến mức tối đa. Theo báo cáo tham luận của Ngân hàng chính sách, đến nay các ngân hàng này đã thực hiện 18 chương trình tín dụng cấp quốc gia, trong đó có bốn chương trình của tổ chức quốc tế, mức cho vay thông thường trong giới hạn từ một triệu đến một trăm triệu. Mặc dù cơ chế tạo lập nguồn vốn cơ bản chưa ổn định lâu dài, chủ yếu huy động từ nguồn vốn ngắn hạn, vay tái cấp vốn từ ngân hàng nhà nước và nhiều khó khăn khác trong quá trình thực hiện nhưng cũng cho thấy sự nỗ lực rất lớn trong việc quan tâm thực hiện công tác xã hội từ Đảng và nhà nước.

Theo nhận định của các chuyên gia, về nhóm những người yếu thế, hộ nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương, thường có trình độ dân trí thấp, lại sinh sống tập trung, chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Do đó, cần phải tạo điều kiện thuận lợi nhất nhằm giúp các đối tượng này tiếp cận các chính sách chăm lo ưu đãi một cách dễ dàng nhất, đồng thời cũng cần phải biết vận dụng nghiệp vụ chuyên môn nhằm giúp họ loại bỏ mặc cảm, tự tin trong cuộc sống và hoà nhập cộng đồng.

Hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội được đề cập trên đây chỉ nhằm phản ảnh một phần công việc thực tiễn từ CTXH, cho thấy CTXH không chỉ bằng những tấm lòng nhân ái, CTXH càng đòi hỏi cao hơn tính chuyên nghiệp và giá trị cao quý của một nghề mang đậm tính nhân văn .

Góc nhìn pháp lý

Một Cán bộ thuộc Bộ Lao động Thương binh và xã hội, cho rằng trên thế giới hiện nay CTXH  được xem như một nghề chuyên môn cao, hoạt động rất chuyên nghiệp với những phương pháp, kỹ năng cụ thể nhằm hỗ trợ cộng đồng một cách hiệu quả và đóng góp cho xã hội những biện pháp tích cực để giúp người yếu thế cải thiện cuộc sống và vươn lên mạnh mẽ. Chuyên gia này cho rằng, trong khi công tác nhân đạo chỉ mang tính nhất thời, thì CTXH  thường được tiến hành bài bản hơn, có bộ phận nghiệp vụ đánh giá, xây dựng kế hoạch, trực tiếp cung cấp dịch vụ hoặc kết nối với các tổ chức khác như Ngân hàng chính sách, cơ sở dạy nghề, trung tâm trợ giúp pháp lý…để giải quyết vấn đề một cách căn cơ và toàn diện.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, ngày 25.3.2010 Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 thông qua Quyết định 32/2010/QĐ-TTG, với mục tiêu chung  là phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH, xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Theo đó, Bộ Nội vụ và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành nhiều quy định về lương, chế độ chính sách, cơ cấu nghiệp vụ và hiện đang được xây dựng, phát triển hoàn thiện. “Đề án 32” triển khai tại các cấp Tỉnh thành, Quận huyện, trực tiếp cung cấp dịch vụ xã hội cho cộng đồng và liên kết các tổ chức để giúp đỡ cho các đối tượng người yếu thế. Quy định này cũng yêu cầu tại các cơ quan Phường, xã cần có một đến hai chức danh chuyên trách làm CTXH, ngoài ra còn có đội ngũ các cán bộ, nhân viên CTXH theo từng lĩnh vực chuyên ngành khác nhau như y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội…Riêng trường hợp nuôi dưỡng bảo trợ xã hội (không điều chỉnh theo Luật con nuôi) cũng đã có quy định về chăm sóc nuôi dưỡng có thời hạn cho một số trường hợp bị bạo hành, cơ nhỡ. Văn bản cũng đã chú trọng công tác đào tạo chức danh nghề và nghiệp vụ CTXH tại các trường học, cơ sở giáo dục cấp quốc gia.

Chia sẻ các ý kiến của mình về CTXH, PGS.TS Đỗ văn Đại (Trưởng khoa Luật Dân Sự trường ĐH Luật TPHCM) đã phân tích tổng quát về thuật ngữ “người yếu thế” theo nhận định của pháp luật Việt Nam, đó là những người mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) hạn chế NLHVDS, hạn chế về thể chất, về trình độ, trẻ vị thành niên…

Trong pháp luật Việt Nam cũng quy định cơ chế bảo vệ người yếu thế thông qua “người giám hộ”, cơ chế trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể theo các quy định của pháp luật …Theo đó, các nhà làm luật đã thiết kế rất nhiều cơ chế bảo vệ người yếu thế trong một số bộ luật lớn của hệ thống pháp luật Việt Nam như:  Bộ luật Hình sự, bảo vệ người yếu thế đối với người chưa thành niên phạm tội bằng cách quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, khung hình phạt đối với họ. Bộ luật tố tụng hình sự bảo vệ người yếu thế bằng các qui định nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền bào chữa của người bị buộc tội trong việc chứng minh sự vô tội. Bộ luật Tố tụng Dân sự bảo vệ người yếu thế bằng cách qui định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khởi kiện, cơ quan tiến hành tố tụng trong một số trường hợp để bảo vệ quyền và lợi ích của người khác như vấn đề thu thập chứng cứ. Đặc biệt, Bộ luật Dân sự đã có rất nhiều quy định bảo vệ người yếu thế, các chế định về hợp đồng theo mẫu, nghĩa vụ cung cấp thông tin, giải thích hợp đồng …trong các chế định tài sản, quyền sở hữu, nghĩa vụ hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Thạc sĩ Nguyễn Trương Tín (Giảng viên khoa luật Dân sự trường Đại học Luật TPHCM) đưa ra quan điểm pháp lý trong phần trình bày của mình về những bất cập trong thực tiễn xét xử các tranh chấp trong quan hệ hợp đồng, ông cho rằng nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới luôn quan tâm theo hướng áp đặt nghĩa vụ trong hợp đồng đối với người “mạnh thế” như đưa ra nghĩa vụ đảm bảo an toàn đối với cá nhân, nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên”mạnh thế”, giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bên “yếu thế”. Ở Việt Nam, cơ chế pháp lý bảo vệ người yếu thế thể hiện qua các quy định về giao kết hợp đồng, xác định thời hiệu giải quyết tranh chấp tại các điều 20, 21,22, 23, 130, 133, 161 BLDS áp dụng cho người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người hạn chế NLHVDS. Các quy định về hợp đồng mẫu (điều 407 BLDS) ; Giải thích Hợp đồng dân sự (điều 409 BLDS); Nghĩa vụ cung cấp thông tin (điều 422 BLDS). Ngoài ra, ông Tín cũng đã nêu ra một số vụ án thực tế và nhận định về “sự thiếu vắng quy định về nghĩa vụ đảm bảo an toàn trong pháp luật thực định”. Thạc sĩ Nguyễn Trương Tín cũng mạnh dạn kiến nghị BLDS cần bổ sung quy định về “nghĩa vụ đảm bảo an toàn” của bên cung ứng dịch vụ đối với bên thuê dịch vụ (khách hàng) nhằm bảo vệ tốt hơn người yếu thế là khách hàng, họ có thể khai thác trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.  

Những người làm CTXH nói gì ?

Tại buổi hội thảo, một số đại biểu đại diện cho những “người yếu thế” được thụ hưởng chính sách hỗ trợ tài chính của các ngân hàng cũng đã chia sẻ kết quả công việc của mình với nhiều kỳ vọng vào sự chuyên  nghiệp và luật hoá CTXH trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam.

Một bộ phận các Sinh viên đang theo chuyên ngành đào tạo nghề CTXH tại các trường Đại học, dù đây là một môi trường mới mẻ, nhưng họ cũng lạc quan đặt niềm tin vào sự phát triển và hướng mở cho sự đa dạng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai đối với ngành nghề này.

Và chúng tôi, những người làm công tác pháp luật cũng rất vinh dự khi được tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý, một phần hoạt động của CTXH góp phần đa dạng hoá các lĩnh vực CTXH, nâng tính chuyên nghiệp của nghề CTXH và đề cao sự tôn trọng của xã hội đối với nghề cao quý này.


HOẠT ĐỘNG PHONG TRÀO

Chiến dịch Mùa hè xanh năm 2012
Đại hội Đoàn viên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Đoàn Luật sư nhiệm kỳ I (2012 – 2014)
Công đoàn Đoàn Luật sư TP.HCM đã tổ chức thăm hỏi và tặng quà nhân dịp năm mới
Công nhận tập sự hành nghề luật sư đợt 22
THƠ MỜI HỌP
BAN VĂN NGHỆ ĐOÀN LUẬT SƯ TP.HCM HỌP MẶT ĐẦU NĂM.
THƯ NGỎ: Kêu gọi các luật sư, tập sự hành nghề luật sư tích cực
CÂU LẠC BỘ NỮ LUẬT SƯ VÀ NHỮNG VIỆC LÀM THẮM TÌNH
Hào khí hội nghị Diên Hồng
THÔNG BÁO: V/V: ĐĂNG KÝ THAM GIA PHONG TRÀO VĂN NGHỆ CỦA ĐOÀN
   THÔNG TIN LIÊN HỆ

104 Nguyễn Đình Chiểu,
    Phường Đakao, Quận 1, Tp.HCM

+84 3822 2113 - 3829 5308

+84 8829 6437

hcmcbar@gmail.com

   HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
   THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

   LỊCH VIỆT NAM
   LIÊN KẾT WEBSITE


   SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1,567,877