TIN TỨC - SỰ KIỆN
 
HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRONG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Sau hơn hai năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý (LTGPL) và thực hiện TTLT số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC (Thông tư số 10) ngày 28/12/2007 của liên Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng.

 

Công tác TGPL cho các đối tượng được TGPL như người nghèo, đối tượng chính sách trong đó đặc biệt phải kể đến các đối tượng là người chưa thành niên (NCTN) phạm tội, trẻ em bị xâm hại, ngược đãi... được những kết quả đáng kể. Trong đó, phải kể đến đội ngũ luật sư là cộng tác viên đã tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có yêu cầu; tham gia tố tụng bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng theo đúng quy định của LTGPL.

1. Thực trạng hoạt động tố tụng trong công tác trợ giúp pháp lý


Có thể nhận thấy rằng, việc tham gia tố tụng của đội ngũ luật sư cộng tác viên (LSCTV) trong quá trình điều tra các vụ án hình sự đã góp phần nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động điều tra, xử lý tội phạm của cơ quan điều tra các cấp trong công an nhân dân theo đúng các quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp oan, sai, góp phần bảo vệ được các quyền, lợi ích chính đáng của những người được trợ giúp pháp lý.

Bằng hoạt động của mình, đội ngũ LSCTV đã đem lại những hiệu quả nhất định trong việc chứng minh sự vô tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN; trẻ em bị xâm hại, ngược đãi góp phần đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT). LSCTV đã giúp cho người tiến hành tố tụng hình sự thận trọng hơn trong hoạt động của mình, hạn chế được oan sai, và sự tham gia của LSCTV từ giai đoạn điều tra như là một sự phản biện có lợi cho CQĐT.

Để đạt được những thành quả đó, đội ngũ LSCTV tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự đã không gặp ít khó khăn, cản trở từ phía các CQTHTT, mà chủ yếu là từ sự nhận thức của chính những người tiến hành tố tụng hình sự, do những quy phạm pháp luật về thực hiện quyền bào chữa còn mang tính tùy nghi, chưa có văn bản giải thích rõ ràng dẫn đến việc nhận thức khác nhau về việc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo là NCTN trong hoạt động điều tra, xét xử vụ án hình sự của các cơ quan tố tụng TP.HCM.

Qua kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, chúng tôi nhận thấy khó khăn tồn tại trong việc cấp GCNBC là do cơ chế hoạt động của các CQTHTT thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể có những trường hợp như:

- CQTHTT yêu cầu phải có quá nhiều giấy tờ như: (1) Thẻ luật sư (bản sao có công chứng); (2) chứng chỉ hành nghề (bản sao có công chứng); (3) Giấy giới thiệu của VPLS hoặc quyết định cử LSCTV tham gia tố tụng của Trung tâm trợ giúp pháp lý (TTTGPL). Trong khi đó, luật sư (LS) không biết phải gửi các giấy tờ thủ tục liên quan để yêu cầu CQTHTT cấp giấy chứng nhận bào chữa (GCNBC) cho mình tại bộ phận nào của CQTHTT. Có cơ quan điều tra (CQĐT) quy định LS phải gửi các thủ tục nêu trên cho đội Điều tra tổng hợp, có nơi quy định LS phải gửi trực tiếp cho điều tra viên (ĐTV) thụ lý để được cấp GCNBC. Để biết được ĐTV nào trực tiếp thụ lý vụ án là một điều không dễ. Như vậy, về chủ quan có thể nhận thấy không phải dễ dàng gì LS có được GCNBC để tham gia vào tố tụng. Hiện nay, BLTTHS cũng chưa quy định cụ thể về thủ tục này, nên mỗi nơi áp dụng một kiểu và gây rất mất nhiều thời gian và khó khăn cho LS.

Việc CQĐT gây khó khăn trong việc cấp GCNBC vô hình trung đã vi phạm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được luật pháp quy định. Khi bị gây khó thường các LS ngại đụng chạm nên cố gắng chịu đựng, bởi nhiều trường hợp LS mạnh dạn khiếu nại lên người có thẩm quyền thì sau đó họ lại bị CQĐT gây khó dễ nhiều hơn trong các vụ án tiếp theo. Yêu cầu đủ các loại giấy tờ để được cấp GCNBC có vẻ còn dễ chịu và gây ít “ấm ức” hơn so với trường hợp CQĐT hẹn lần, hẹn lữa với LS mà không có lý do chính đáng. Việc làm này không phù
hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Nhà nước theo Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị.

Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP (02/10/2004) của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là NCTN như sau: “Theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS khi bị can, bị cáo là NCTN, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì CQĐT, VKS hoặc tòa án phải yêu cầu đoàn luật sư phân công VPLS cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình ; do đó, trường hợp khi phạm tội, người phạm tội là NCTN, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS ». Vấn đề này theo chúng tôi sẽ dẫn đến việc cơ quan tiến hành tố tụng “vô tình” tước đi quyền bào chữa (nhờ người khác bào chữa) của bị cáo khi phạm tội là NCTN, bởi lẽ, đặc điểm NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần; là người đang ở giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình lúc phạm tội. Chính vì lẽ đó, họ không thể tự mình bào chữa cho hành vi vi phạm pháp luật của mình, mặc dù đã thành niên khi xét xử. Việc tòa án căn cứ vào NQ 03/2004/NQ-HĐTP để không tiếp tục yêu cầu LS bào chữa cho bị cáo là NCTN sẽ làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa của họ.

2. Khái quát tình hình và kết quả thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho các
đối tượng được trợ giúp pháp lý của luật sư cộng tác viên trong hoạt động tố tụng hình sự

Theo báo cáo của TTTGPL TP. HCM thì trong năm 2007, tổng số vụ cử LSCTV tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án và đại diện ngoài tố tụng là 699 vụ trong đó có 472 là trẻ vị thành niên; và năm 2008, tổng số vụ cử LSCTV tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi trước tòa án và đại diện ngoài tố tụng là 518 vụ trong đó có 734 là trẻ vị thành niên.

Đánh giá về kết quả hoạt động của LSCTV trong những vụ án có sự tham gia của LSCTV như sau:

+ Kỹ năng tranh tụng được phát triển tương đối đồng đều, vai trò của LSCTVC tại phiên tòa đã thực sự giúp cho tòa án xét xử công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không ít phiên tòa, thông qua phần xét hỏi hoặc tranh luận của LSCTV làm sáng tỏ nhiều tình tiết có thể làm thay đổi nội dung vụ án hoặc phổ biến hơn, những tình tiết mà LSCTVC làm rõ ấy, có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NCTN phạm tội trước pháp luật mà nếu không có LSCTV thì họ có thể sẽ bị thiệt thòi, không được tòa án xem xét.

+ Nhiều ý kiến băn khoăn, vướng mắc của LSCTV trong quá trình thực tiễn nghiên cứu hồ sơ, hoạt động bào chữa đã góp phần quan trọng thúc đẩy việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định tố tụng hình sự và các văn bản pháp quy khác có liên quan. Điển hình là các quy định về quyền của bị can được nhờ người bào chữa từ khi bị tạm giữ, khởi tố tạm giam; quyền của người bào chữa khi tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng hình sự v. v...

+ Bên cạnh những thành tựu mà đội ngũ LSCTV đã đạt được, thì vẫn còn một số tồn tại như:

- Mối quan hệ giữa LSCTV và CQĐT trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra, theo dõi các hồ sơ hình sự thuộc trường hợp phải có LS tham gia theo khoản 2 Điều 57 BLTTHS, chúng tôi nhận thấy trong giai đoạn này việc tham gia các lần hỏi cung rất hạn chế về số lượt. Gần như 100% các bản cung loại này chỉ có chữ ký LSCTV chứng minh rằng có chứng kiến chứ không nêu lên bất kỳ câu hỏi nào hoặc dòng chữ nhận xét nào. Chúng tôi cho rằng, việc LSCTV hỏi bị can về một số vấn đề thuộc tâm tư, tình cảm, gia đình hoặc một khía cạnh đơn giản nào đó của vụ án v. v... thì đương nhiên điều tra viên phải đồng ý để LSCTV tham gia hỏi và ghi vào biên bản. Nếu thực hiện được việc này thì mới đảm bảo phần nào quyền bào chữa của bị can và việc tham gia của LSCTV trong giai đoạn điều tra sẽ không mang tiếng chỉ là hình thức.

- Một số LSCTV còn yếu về nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp, chưa cập nhật được các văn bản pháp luật cần thiết cho hoạt động bào chữa. Chưa phát huy hết trách nhiệm của LSCTV trong khi pháp luật tố tụng đã quy định đầy đủ, cụ thể là chưa phân biệt được “quyền luật sư” quy định tại khoản 2 và “nghĩa vụ của luật sư” theo khoản 3 Điều 58 BLTTHS. Sự nhầm lẫn thiếu sót này không chỉ làm thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là NCTN mà còn làm giảm uy tín của LS.

- Nhiều LSCTV còn lúng túng trong hoạt động của mình tại phiên tòa khi lợi ích của các bị cáo đối nghịch, mâu thuẫn nhau. Có LSCTV bào chữa cho bị cáo này còn thay quyền công tố kết tội bị cáo khác nhằm có lợi cho bị cáo mà mình đang bào chữa. Có trường hợp bị cáo khẳng định không phạm tội thì LSCTV bào chữa lại hùng biện với Kiểm sát viên chứng minh bị cáo phạm tội nhẹ hơn (?)...

- Mối quan hệ giữa đồng nghiệp với nhau giữa các LSCTV cũng chưa thực sự được gắn kết. Giữa các LSCTV có tuổi đời, tuổi nghề và các LSCTV trẻ còn có khoảng cách trong quan hệ cũng như thiếu hẳn sự dìu dắt của người đi trước và người đi sau.

Ngoài những tồn tại nêu trên, còn có những hạn chế khác xuất phát từ việc ban hành các văn bản liên quan đến công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng chưa cụ thể còn mang tính chung chung. Sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan theo TTLT số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của liên BTP, BCA, BQP, BTC, VKSNDTC, TANDTC chưa đồng bộ, thiếu sự gắn kết dẫn đến công tác phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng chưa có hiệu quả.

3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động TGPL trong lĩnh vực tố tụng hình sự trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy: Các quy phạm pháp luật về thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động TGPL là những cái đã có nhưng chưa đầy đủ và đảm bảo thực hiện tốt. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động TGPL là rất cần thiết.


Việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động TGPL phải trên phương hướng chung là tiếp tục phát triển, hoàn thiện những quy phạm pháp luật về thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động TGPL hiện có. Đồng thời bổ sung các quy phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động TGPL cho thật sự đầy đủ, rõ ràng và bảo đảm thực hiện, để làm được điều này: Thứ nhất, chúng ta cần phải có những hoạt động hệ thống, củng cố lại các quy phạm pháp luật và cơ chế thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động TGPL đang tồn tại để phát hiện những cản trở, thiếu sót mà tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời, như xác định những văn bản pháp luật hiện hành trong đó có quy định những thủ tục, quy trình tố tụng. Thứ hai, trong trường hợp có sự tham gia của LSCTV, Trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) hoặc theo yêu cầu của CQTHTT ngay từ giai đoạn bắt NCTN vi phạm pháp luật ; NCTN bị tạm giữ, khởi tố bắt tạm giam bị can là NCTN, GCNBC cần được xác định có giá trị trong suốt các giai đoạn tố tụng cho đến khi kết thúc việc xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp bị thu hồi (theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự). Thứ ba, cần xây dựng một quy trình thực hiện công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong đó, phải có quy định về sự có mặt bắt buộc của LSCTV, TGVPL tại các buổi lấy lời khai và một số hoạt động tố tụng khác áp dụng đối với các đối tượng được TGPL nói chung và NCTN phạm tội nói riêng, coi đây là một trong các điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành công tác TGPL. Thứ tư, các TTTGPL phải thường xuyên mở các buổi tập huấn về công tác TGPL định kỳ nhằm giúp các LSCTV, TGVPL trao đổi những kỹ năng về nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng TGPL để từ đó rút ra được những kinh nghiệm hoặc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình TGPL. Riêng về mối quan hệ giữa LSCTV-Lãnh đạo TTTGPL nên tổ chức các buổi họp định kỳ theo quý (03 tháng một lần) để trao đổi, đóng góp ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý  cho các TTTGPL. Thứ năm, Hội đồng phối hợp liên ngành cần tiếp tục triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10 một cách triệt để, để tháo gỡ những vấn đề vướng mắc về TGPL trong hoạt động tố tụng như đã nêu trên.


Luật sư Nguyễn Hữu Thế Trạch

 



TIN TỨC - SỰ KIỆN KHÁC

Cần có định chế cho phép xây dựng và áp dụng án lệ như là nguồn bổ sung luật pháp trong xét xử
Hãy dự phòng nước ngoài “xù” hợp đồng mua bán ngoại thương !
Đếm bước thời gian...
Nhân chứng vụ án
Chỗ ngồi không tạo nên công lý
Kính ông- Ông Võ Văn Kiệt
Bảo vệ môi trường: Cần đổi mới luật pháp và việc thực thi
“Thủ lãnh” và chữ “phục”
VILAF – Hồng Đức nhận thêm giải thưởng quốc tế “Hãng luật của năm về giao dịch quốc tế”
AI CỬ, LUẬT SƯ BẦU ?
   THÔNG TIN LIÊN HỆ

104 Nguyễn Đình Chiểu,
    Phường Đakao, Quận 1, Tp.HCM

+84 3822 2113 - 3829 5308

+84 8829 6437

hcmcbar@gmail.com

   HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
   THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

   LỊCH VIỆT NAM
   LIÊN KẾT WEBSITE


   SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1,559,886